Nhắc đến du lịch Đà Nẵng, phần đông du khách thường nghĩ ngay đến bãi biển Mỹ Khê rực nắng, những cây cầu vắt qua sông Hàn hay nhịp sống sôi động nơi phố thị. Thế nhưng, giữa vùng đất được mệnh danh là “thành phố biển” ấy vẫn hiện hữu một gam màu khác biệt: miền núi với cộng đồng đồng bào gắn bó lâu đời cùng dãy Trường Sơn. Chính sự giao thoa này đang mở ra hành trình khám phá mới mẻ: du khách không chỉ tìm về sóng gió biển khơi, mà còn chạm đến nhịp sống văn hóa miền núi giàu bản sắc.
Trong bức tranh ấy, người Cơ Tu giữ một vị trí nổi bật. Họ nổi danh với những lễ hội cộng đồng, điệu chiêng ngân vang, kiến trúc nhà Gươl uy nghi và hơn hết là kho tàng ẩm thực gắn chặt với núi rừng. Với tín đồ ẩm thực, thưởng thức món ăn Cơ Tu còn là cách cảm nhận tinh thần sum vầy, tình yêu thiên nhiên và sức sống bền bỉ của núi rừng Trường Sơn.
Đặc biệt, trong hai ngày 20 – 21/9 tới, du khách sẽ có dịp khám phá trọn vẹn đời sống văn hóa và hương vị ẩm thực đặc sắc của đồng bào Cơ Tu tại Ngày hội văn hóa truyền thống Cơ Tu – lần thứ I năm 2025, tổ chức ở xã Sông Kôn, thành phố Đà Nẵng.
Du lịch Đà Nẵng: Thịt heo treo gác bếp vượt ra khỏi khuôn bếp của bản làng, trở thành trải nghiệm ẩm thực mà du khách tìm đến

Từ thuở còn sống du canh du cư trên dãy Trường Sơn, đồng bào Cơ Tu đã biết dự trữ thức ăn bằng cách treo lên giàn bếp. Trong căn nhà sàn đơn sơ, khói lửa ngày đêm quấn quyện, hun khô từng thớ thịt, củ sắn, trái bắp… tạo nên nguồn lương thực nuôi sống cả cộng đồng qua mùa mưa gió. Trong đó, thịt heo treo gác bếp dần trở thành món ăn biểu trưng, gắn với cả đời sống sinh hoạt lẫn phong tục.
Thịt thường được chọn từ phần vai, mông hay ba chỉ, ướp muối cùng gia vị rừng: gừng, sả, ớt, tiêu amót. Sau khi thấm đều, từng miếng thịt được xâu lại bằng lạt mây, treo trên giàn bếp để khói lửa thẩm thấu. Ngày qua ngày, mỡ chảy ra, thịt săn chắc, hương thơm lan khắp gian nhà. Chỉ sau khoảng mười ngày, thịt đã đủ độ để dùng, càng để lâu vị càng đậm.
Miếng thịt khi thái mỏng mang sắc hồng đào, vừa mắt lại dậy mùi khói đặc trưng. Khi nướng trên than, phần ngoài xém vàng, phần trong ngọt mềm, ăn kèm lá rừng, chuối chát hay chấm muối tiêu rừng, vị đậm đà cứ thế lan tỏa. Với đồng bào Cơ Tu, đây là món ăn dành để đãi khách quý, là thức quà gửi gắm sự hiếu khách và niềm tự hào văn hóa.
Du lịch Đà Nẵng: Độc đáo món T’lu – mỡ rắn mối được dùng như “kem dưỡng da” giúp gương mặt thêm hồng hào trong ánh lửa đêm hội

Đồng bào Cơ Tu ở dãy Trường Sơn còn có món T’lu (rắn mối) – thứ đặc sản núi rừng vừa lạ vừa bổ dưỡng.
Loài bò sát này vốn sống nhiều trong các gốc cây mục, được bà con bắt về, thui lửa liu riu, cạo sạch vảy rồi mổ bỏ ruột, chỉ giữ lại phần mỡ và trứng non bên trong. Người Cơ Tu đặc biệt giữ nguyên phần đuôi, bởi theo kinh nghiệm dân gian, đây là bộ phận giàu dinh dưỡng và có giá trị như vị thuốc.
Thịt rắn mối trắng, ngọt béo, xương giòn, có thể chế biến thành nhiều món: cháo, chiên giòn, nướng, luộc xé phay trộn rau răm, xào lá lốt, sả ớt, hay đọt thiên niên kiện. Đặc biệt, bà con thường ướp thịt rắn mối với gia vị rồi gói trong lá non thiên niên kiện, nướng trên than hồng, khi chín dậy mùi thơm quyện hòa đặc trưng.
Một biến tấu khác là món ză zắ: thịt rắn mối cùng lá lốt, tiêu rừng, ớt, đọt thiên niên kiện cho vào ống nứa tươi, nướng trên lửa rừng. Khi chín, mở ống nứa ra, hương vị ngọt béo xen lẫn mùi thơm của rau rừng, cay nồng của ớt mọi khiến người ăn khó quên, thường được thưởng thức cùng rượu tà vạt hay tr’đin.
Theo các bô lão Cơ Tu, thịt rắn mối là món ăn bổ dưỡng, “rất hiền”, tốt cho trẻ em suy dinh dưỡng, người già yếu, phụ nữ sau sinh. Thậm chí, mỡ rắn mối còn được các sơn nữ dùng như một loại kem dưỡng da, giúp gương mặt thêm mịn màng, hồng hào trong những đêm hội tung tung za zá.
Du lịch Đà Nẵng: Bánh cuốt là biểu tượng âm – dương, kết tinh của trời đất và linh hồn núi rừng

Đồng bào Cơ Tu có một đặc sản không thể thiếu trong mỗi dịp lễ hội, Tết cổ truyền hay lễ mừng lúa mới: bánh sừng trâu, còn gọi là bánh cuốt, bánh đót, a cuốt.
Loại bánh này có hình dáng cong nhọn như cặp sừng trâu, dài khoảng 12 -15cm, phần giữa phình to. Người Cơ Tu thường bó hai chiếc thành một cặp và đem luộc, coi đó là biểu tượng gắn với sự sung túc và hài hòa âm dương.
Nguyên liệu làm bánh khá đơn giản nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ. Lá gói phải là lá đót rừng, bản to, không rách, hái vừa tầm tuổi lá. Gạo nếp nương proong thơm dẻo được đổ trực tiếp vào lá đã cuốn hình sừng trâu, uốn khéo đầu còn lại thành nhọn rồi buộc bằng lạt tre. Hai chiếc bánh ghép thành một cặp, sau đó ngâm trong nước suối đầu nguồn khoảng nửa ngày để gạo ngấm và mềm.
Công đoạn nấu bánh kéo dài tới 8 tiếng, lửa vừa phải, không quá to cũng không quá nhỏ. Khi chín, bóc lớp lá ngoài ra, bánh có màu xanh óng ánh, dậy mùi nếp quyện hương lá đót. Vị dẻo thơm, mùi nồng nàn của núi rừng khiến người thưởng thức khó quên.
Du lịch Đà Nẵng: Lá sắn xào tưởng chừng dân dã, quen thuộc nhưng lại chứa đựng bao câu chuyện văn hóa

Khác với người Kinh thường chỉ ăn củ, người Cơ Tu xem lá sắn mới là “đặc sản”. Từ tháng 9 âm lịch, khi những cơn mưa đầu mùa làm rừng xanh mướt, lá sắn non cũng được hái về để chế biến. Trong những năm kháng chiến gian khó, cây sắn từng là nguồn lương thực giúp đồng bào vượt qua thiếu đói, nên món lá sắn xào càng gắn bó mật thiết với đời sống.
Để có đĩa lá sắn ngon, người Cơ Tu chỉ chọn ngọn non hoặc lá bánh tẻ, chần qua nước sôi rồi thả vào nước lạnh, rửa nhiều lần để loại bỏ vị hăng và nhựa đắng. Sau đó, lá được vò kỹ với muối cho mềm nhưng vẫn giữ nguyên búp. Khi xào, người bản địa phi thơm tỏi, cho lá sắn cùng ớt rừng, tiêu, muối vào đảo nhanh tay. Thành phẩm giữ màu xanh mướt, thơm mùi tỏi, vị đắng nhẹ quyện cay nồng, ăn nóng mới trọn hương vị.
Không chỉ hiện diện trong bữa ăn thường ngày, lá sắn xào còn được bà con chuẩn bị trong mâm lễ cúng Giàng hay dùng để đãi khách phương xa. Từ chỗ là món ăn cứu đói năm nào, lá sắn nay đã trở thành đặc sản giản dị mà đậm đà hồn núi rừng Cơ Tu.
Du lịch Đà Nẵng: Zơ rá có thể ăn cùng cơm, xôi, thịt cá hoặc rau rừng, nhưng luôn được xem là món ăn trung tâm trong bữa tiệc

Trong kho tàng ẩm thực miền núi, đồng bào Cơ Tu có món đặc sản độc đáo mang tên zơ rá – vừa là món ăn thường nhật, vừa là “mồi nhắm” trong những dịp lễ hội.
Zơ rá phản ánh rõ nét sự gắn bó của đồng bào với núi rừng. Nguyên liệu chủ yếu là sản vật tự nhiên: đọt mây, rau dền, bắp chuối rừng, củ sắn, trái cà; thêm vào đó là cá suối, sóc, chuột rừng, cùng thịt khô heo rừng, nai, cá gác bếp, gạo nếp, ớt và tiêu rừng. Người Cơ Tu chọn ống tre lồ ô còn tươi để làm “nồi nướng” bởi vị ngọt và hương thơm của tre sẽ hòa quyện cùng các nguyên liệu.
Cách chế biến cũng đậm triết lý dân gian. Thịt khô được xếp ở dưới cùng, kế đến là thịt tươi, rau củ, gạo và gia vị. Ống tre được bịt kín bằng lá rừng, đặt lên than hồng và xoay tròn cho chín đều. Khi đã vừa chín tới, người nướng dùng cành mây có gai để trộn đều các tầng thực phẩm, rồi tiếp tục nướng cho đến khi các hương vị hòa quyện. Thành phẩm là một ống zơ rá tỏa mùi thơm nồng, dẻo vừa, cay mặn hài hòa; màu sắc đặc trưng xanh lam, không ướt cũng không khô.
Zơ rá có thể ăn cùng cơm, xôi, thịt, cá, rau rừng nhưng bao giờ cũng giữ vai trò món ăn chủ đạo trong mâm cỗ. Đặc biệt, nó xuất hiện trong những dịp trọng đại như lễ đâm trâu, dựng làng mới, mừng cơm mới, lễ cưới hay khi gia đình có khách quý.
Du lịch Đà Nẵng: Loại “rượu trời” đặc biệt mang tên Tr’đin trên vùng biên viễn quanh năm mù sương

Khác với rượu gạo chưng cất, thứ rượu này được chiết xuất từ nhựa cây đủng đỉnh – loài cây chỉ mọc ở sát biên giới Việt – Lào.
Để lấy rượu, người dân phải chọn đúng thời điểm, đục thân cây tại cuống lá thích hợp, hứng từng giọt nhựa trắng đục. Nhựa này sau đó được ủ với vỏ cây chuồn để lên men, cho ra thứ rượu có vị ngọt thanh, mùi men đặc trưng, bọt sủi như bia. Đặc biệt, rượu Tr’đin uống mát, không gây say xỉn mệt mỏi, được coi là “thiên hạ đệ nhất tửu Trường Sơn”.
Mỗi cây Tr’đin có thể cho 5 – 10 lít rượu mỗi ngày trong nhiều tháng. Việc lấy rượu thường gắn với tinh thần cộng đồng: người làng rủ nhau đi theo nhóm, vừa lao động vừa gắn kết tình cảm. Trong lễ hội, cưới hỏi, dựng nhà mới hay ngày mùa, ché rượu Tr’đin luôn hiện diện như biểu tượng của sự hiếu khách.
Ngày nay, khách du lịch khi đến Tây Giang được mời nếm thử, nhiều người gọi vui đây là “sâm-panh Tr’đin”. Thứ rượu trời này không chỉ làm say lòng thực khách mà còn mang trong mình câu chuyện văn hóa độc đáo của đồng bào Cơ Tu.
Du lịch Đà Nẵng: Rượu tà vạc – men say của người Cơ Tu

Cây tà vạc mọc hoang ven núi, khe suối, được đồng bào Cơ Tu khai thác từ lâu đời để chế biến thành loại rượu đặc trưng. Người dân thường “đánh dấu” vài cây trên rừng làm của riêng. Đến khi cây đủ 10 năm tuổi, trổ buồng, họ cắt cuống, lấy nước trắng đục, ngọt dịu như rượu nếp. Nước được hứng trong ống tre, can nhựa, sau đó cho thêm vỏ khô cây chuồn để tạo men tự nhiên, cho ra rượu tà vạc.
Rượu này chỉ uống tươi, không để lâu, không vận chuyển xa, chủ yếu thưởng thức tại chỗ, từ bữa cơm thường ngày đến đám cưới, lễ hội. Vào dịp hội làng, mỗi nhà mang rượu cần, rượu tà vạc góp chung, rót ra ống nứa mời nhau. Thức uống dân dã ấy trở thành “men kết nối cộng đồng”, biểu tượng cho tinh thần chia ngọt sẻ bùi, gắn kết xóm làng.
Không chỉ giúp đồng bào hồi sức sau lao động, men tà vạc còn nuôi dưỡng cảm hứng sáng tác dân gian, đi vào ca dao, thổ cẩm, phù điêu, hay trang trí trên gươl – nhà cộng đồng truyền thống của người Cơ Tu.
×
Nguồn: Sưu tầm






Trả lời