Pavlo Fedykovych, nhà báo của CNN gọi địa đạo Vịnh Mốc ở Quảng Trị là “ngôi làng dưới lòng đất”, từng giúp hàng trăm người dân tránh bom đạn thời chiến.
Ở rìa làng Vịnh Mốc ngày nay, những rặng tre bao bọc quanh dãy quán ăn đường phố. Thực khách thường ngồi trên những chiếc ghế nhựa dọc vỉa hè, thưởng thức bún và bánh tráng nướng.
Cây viết Pavlo Fedykovych của CNN cho hay khung cảnh thanh bình này khác hoàn toàn so với 6 thập kỷ trước, khi ngôi làng phải gánh khoảng 9.000 tấn bom đạn trong suốt 8 năm. Ngay cạnh các quán ăn là lối dẫn vào địa đạo Vịnh Mốc, hệ thống đường hầm được xây dựng để bảo vệ người dân trong chiến tranh.
Vịnh Mốc từng là một làng chài ven biển của tỉnh Quảng Trị với ruộng lúa, đất đỏ bazan, những bãi biển và lũy tre trải dài. Sau Hiệp định Geneva năm 1954 chia cắt Việt Nam dọc sông Bến Hải, khu vực này trở thành địa bàn chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh. Đối mặt với bom đạn liên tục, người dân địa phương quyết định không rời bỏ quê hương mà tìm cách sinh tồn dưới lòng đất.

Du khách tham quan địa đạo Vịnh Mốc. Ảnh: Hoàng Đình Nam/AFP
Ông Văn Ngọc Vũ, hướng dẫn viên và giám đốc Annam Tour, cho biết sơ tán không khả thi do bom đánh phá liên tục, người dân đối mặt với nguy cơ mất đất và mất mạng. Đào hầm dưới đất là giải pháp thực tế và mang tính chiến lược.
Theo thông tin tại bảo tàng di tích, ý tưởng đào hầm được đề xuất vào năm 1963. Ban đầu, hệ thống này được lấy cảm hứng từ địa đạo Củ Chi. Củ Chi gồm các lối đi hẹp kết nối với các phòng lớn, Vịnh Mốc được thiết kế như một ngôi làng ngầm tự cung tự cấp. Các lối đi chính đủ cao để đi lại và đủ rộng để tạo không gian sinh hoạt cho từng gia đình dọc theo vách hầm.
Bà Trần Mỹ Hoa, hướng dẫn viên của Connect Travel, cho biết người dân ở đây vốn đã có kinh nghiệm đào hầm trú ẩn nhỏ. Đất bazan ở Vịnh Mốc đủ cứng để không bị sụp đổ và đủ mềm để đào bằng các công cụ thô sơ. Công trình được khởi công năm 1965 và hoàn thành sau khoảng hai năm, dưới sự giám sát của ông Lê Xuân Vy, thời điểm đó là đồn trưởng đồn công an vũ trang 140.
Hệ thống địa đạo dài hơn 1,6 km, các đường hầm được đào theo hình zíc zắc nhằm giảm áp lực của sóng nổ từ bom đạn. Các đoạn có trần vòm và vách dày để tăng khả năng chịu lực. Hệ thống lối ra vừa phục vụ thông gió, thoát hiểm, vừa kết nối với các nguồn tiếp tế bên ngoài. Địa đạo có 13 cửa thông ra ngoài, gồm các cửa hướng ra cánh đồng và hướng ra biển. Các cửa hướng biển đóng vai trò thông gió, làm lối thoát hiểm và là nơi tiếp tế bí mật cho đảo Cồn Cỏ. Giếng nước được đào ngay trong hầm để cung cấp nước sinh hoạt, trong khi các cửa đối xứng giúp không khí luôn lưu thông.
Ngày nay, du khách có thể đi qua ba tầng địa đạo nằm ở độ sâu khoảng 15-23 m dưới mặt đất. Những hành lang hẹp dẫn tới các khu sinh hoạt chung và các hốc nhỏ được đào sâu vào thành hầm.
Cây viết Pavlo Fedykovych cho rằng trải nghiệm xuống địa đạo giúp du khách hình dung cuộc sống dưới lòng đất trong nhiều năm. Dù rộng hơn địa đạo Củ Chi, nhiều đoạn hầm vẫn buộc khách tham quan phải cúi người khi di chuyển. Hiện, hệ thống được thắp sáng bằng đèn điện. Trong thời chiến, người dân chỉ có đèn dầu và thường phải di chuyển trong bóng tối để tránh bị phát hiện.
Theo các tài liệu tại khu di tích, khoảng 400 người đã sinh sống trong địa đạo năm 1965-1972. Ban ngày người dân ở dưới hầm, ban đêm lên mặt đất để đánh cá, trồng trọt và thu gom nhu yếu phẩm.
Một trong những hình ảnh gây ấn tượng với du khách là các “phòng gia đình” – những hốc nhỏ được đào vào thành hầm, cao khoảng 1 m và sâu gần 2 m, nơi các gia đình sinh hoạt trong nhiều năm. Khi chiến tranh diễn ra trên mặt đất, cuộc sống vẫn tiếp tục dưới lòng đất.









Trả lời