Tranh luận chuyện phục vụ khách du lịch “Tây ba lô” tại Hà Giang cũ, nay là Tuyên Quang
Sự việc bắt nguồn từ một tài khoản trên Facebook cho rằng nếu tiếp tục dốc sức phục vụ nhóm khách du lịch tự do quốc tế (thường gọi là “Tây ba lô”) theo cách thiếu kiểm soát, địa phương có thể đối mặt nguy cơ ảnh hưởng đến hình ảnh và giá trị văn hóa truyền thống.

Ngay sau khi bài viết được đăng tải, nhiều du khách và doanh nghiệp lữ hành đã lên tiếng, cho rằng không nên có những cách nhìn mang tính miệt thị hay phân biệt đối với du khách, bởi điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển du lịch của Hà Giang (cũ), nay thuộc Tuyên Quang.
Du khách Nguyễn Sỹ Đức cho rằng, dù phục vụ nhóm khách nào cũng cần nhìn nhận vấn đề một cách hài hòa, có thể họ không phải đối tượng khách mục tiêu, nhưng không vì thế mà có thái độ thiếu tôn trọng.
Trong khi đó, du khách Bắp Bơ nhận định, nhóm khách du lịch tự do quốc tế đã góp phần tạo thêm thu nhập cho người dân, đồng thời, nhiều người trong số họ yêu thích khám phá thiên nhiên, không thể đánh giá họ qua yếu tố tài chính hay định kiến.

Chia sẻ với Dân Việt, ông Giàng A Phớn – Giám đốc doanh nghiệp lữ hành HaGiangTre phân tích:
“Trong quá trình phát triển du lịch, cùng với sự gia tăng mạnh của khách quốc tế, phân khúc khách du lịch quốc tế (khách Tây ba lô) ngày càng giữ vai trò quan trọng. Thực tiễn cho thấy, giá trị của một dòng khách không chỉ nằm ở chi tiêu tức thời, mà còn ở thời gian lưu trú, mức độ trải nghiệm, khả năng lan tỏa hình ảnh điểm đến và tác động lâu dài đối với phát triển du lịch địa phương. Những yếu tố này, trong nhiều trường hợp, có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành thị trường và định vị thương hiệu điểm đến.
Số liệu thống kê cho thấy, lượng khách quốc tế đến tỉnh tăng từ 304.558 lượt năm 2023 lên 400.340 lượt năm 2024 và đạt trên 553.000 lượt năm 2025, tương ứng mức tăng gần 38% trong năm 2025.
Đáng chú ý, năm 2025, tỉnh đã đón khách đến từ hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, phản ánh rõ độ phủ rộng và sức lan tỏa toàn cầu của điểm đến. Cơ cấu thị trường tiếp tục duy trì ổn định với các thị trường truyền thống châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan giữ vai trò chủ lực, đồng thời mở rộng sang các thị trường tiềm năng như Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ”.
Theo ông Giàng A Phớn, trong cơ cấu đó, nhóm khách du lịch tự do quốc tế chiếm tỷ trọng đáng kể. Đây là nhóm khách có xu hướng lưu trú dài ngày, chi tiêu theo hành trình, sử dụng đa dạng dịch vụ tại địa phương và ưu tiên trải nghiệm văn hóa bản địa, cảnh quan tự nhiên. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào hình thức giản dị hoặc mức chi tiêu ngắn hạn để đánh giá là “ít giá trị” thì đó là cách nhìn chưa toàn diện.

Theo ông Giàng A Phớn, với mức chi tiêu bình quân khoảng 4,12 triệu đồng/lượt, năm 2025, tổng doanh thu từ khách quốc tế ước đạt trên 2.250 tỷ đồng. Đáng chú ý, nguồn thu này được phân bổ rộng rãi trong xã hội, trực tiếp đi vào các dịch vụ mà cộng đồng có thể tham gia cung cấp như lưu trú nhỏ, homestay, ăn uống, vận chuyển, trải nghiệm văn hóa; qua đó góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng cao.
Không chỉ tạo ra giá trị kinh tế, dòng khách này còn góp phần thay đổi nhận thức xã hội và tư duy làm du lịch. Nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh đã chủ động nâng cao chất lượng dịch vụ, học ngoại ngữ, cải thiện điều kiện đón khách và điều chỉnh cách ứng xử theo hướng chuyên nghiệp, thân thiện hơn. Đồng thời, nhu cầu trải nghiệm bản địa của du khách cũng tạo động lực để cộng đồng quan tâm hơn đến việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
“Ở góc độ môi trường, tôi cho rằng nhóm khách du lịch tự do quốc tế thường có yêu cầu cao về cảnh quan, sự yên tĩnh và tính nguyên bản của điểm đến. Điều này tạo áp lực tích cực để chính quyền và cộng đồng nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, kiểm soát xây dựng và tổ chức hoạt động du lịch theo hướng bền vững, hạn chế phát triển nóng.
Đặc biệt, nếu nhìn từ góc độ xúc tiến, quảng bá, giá trị của dòng khách này càng thể hiện rõ. Năm 2025, cùng với hơn 553.000 lượt khách quốc tế và phạm vi thị trường trên 200 quốc gia, hình ảnh điểm đến đã được lan tỏa rộng rãi trên các nền tảng số. Bên cạnh đó, Hà Giang (cũ) được tạp chí du lịch quốc tế Time Out bình chọn trong danh sách 51 điểm đến đẹp nhất thế giới năm 2026, xếp thứ 17, góp phần nâng cao vị thế trên bản đồ du lịch quốc tế.
Nếu so sánh cụ thể, để sản xuất một phim quảng bá du lịch phát trên các kênh quốc tế như CNN, BBC hoặc Discovery, chi phí thường dao động từ 5 đến 20 tỷ đồng cho một sản phẩm, chưa bao gồm chi phí phát sóng. Các chiến dịch truyền thông đồng bộ có thể cần tới 20–50 tỷ đồng mỗi năm. Trong khi đó, hàng trăm nghìn hành trình, hình ảnh, video và đánh giá thực tế từ du khách được lan truyền trên mạng xã hội đã tạo ra một “hệ sinh thái truyền thông tự nhiên” rộng khắp, liên tục và có độ tin cậy cao.
Chính vì vậy, việc vẫn còn tồn tại cách nhìn phiến diện đối với khách du lịch tự do quốc tế không chỉ là hạn chế về nhận thức, mà còn có thể ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến. Trong bối cảnh cạnh tranh du lịch ngày càng gay gắt, sự chuyên nghiệp không chỉ thể hiện ở cơ sở vật chất hay giá dịch vụ, mà trước hết nằm ở thái độ ứng xử và cách nhìn nhận đúng giá trị của từng dòng khách”, ông Giàng A Phớn cho hay.

Cách nhìn chưa toàn diện
Đồng quan điểm, một số chuyên gia du lịch cho rằng ngành du lịch đang hướng đến phát triển theo hướng xanh, bền vững, trong đó nhận thức là yếu tố then chốt.
Nhận thức được xem là nền tảng cốt lõi của du lịch bền vững, giúp chuyển hóa từ tư duy sang hành động nhằm bảo vệ môi trường, gìn giữ văn hóa và nâng cao giá trị kinh tế địa phương. Việc nâng cao nhận thức cũng góp phần giúp cộng đồng, doanh nghiệp và du khách hiểu rõ trách nhiệm, từ đó tạo sự hài hòa giữa phát triển và bảo tồn tài nguyên.
Một chuyên gia du lịch nhấn mạnh, nhận thức của người làm du lịch cần chuyển từ cách nghĩ “khách chi nhiều hay ít” sang đánh giá tổng thể giá trị mà du khách mang lại; từ nhìn ngắn hạn sang dài hạn; từ cảm tính sang dựa trên dữ liệu và hiệu quả thực tiễn. Khi nhận thức được nâng lên, cộng đồng cùng các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch sẽ có cách ứng xử phù hợp hơn, góp phần xây dựng điểm đến văn minh, thân thiện và có sức cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế.
Theo ông Giàng A Phớn, việc một bộ phận người dân và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch đánh giá nhóm khách du lịch tự do quốc tế (thường gọi là “Tây ba lô”) qua hình thức bên ngoài hoặc mức chi tiêu trực tiếp trong ngắn hạn là cách nhìn phiến diện. Cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ giá trị mà dòng khách mang lại.
Chia sẻ về vấn đề này với PV Dân Việt, bà Nguyễn Huyên, Trưởng phòng Quản lý Du lịch, Sở VHTTDL tỉnh Tuyên Quang cho biết, những du khách nước ngoài mang ba lô, có vẻ ngoài giản dị, không gọi các món đắt tiền, không tiêu dùng ồn ào, thực chất không phải là nhóm khách “ít giá trị”, mà ngày càng giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, tại một số nơi vẫn tồn tại cách nhìn phiến diện, khi một bộ phận người dân và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch đánh giá nhóm khách này chủ yếu qua hình thức bên ngoài hoặc mức chi tiêu trực tiếp trong ngắn hạn. Cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ giá trị mà dòng khách mang lại.
Theo bà, giá trị của nhóm khách này nằm ở thời gian lưu trú, mức độ trải nghiệm, khả năng lan tỏa hình ảnh điểm đến và tác động lâu dài đối với phát triển du lịch địa phương, cũng như lợi ích trực tiếp mang lại cho người dân. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào hình thức giản dị hoặc mức chi tiêu ngắn hạn để đánh giá là “ít giá trị”, thì đó là cách nhìn chưa toàn diện, đồng thời ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến và gây khó khăn cho phát triển du lịch bền vững.
Ông Lại Quốc Tĩnh – Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Hà Giang (cũ), nay là Tuyên Quang chia sẻ với Dân Việt rằng, những người làm du lịch địa phương không phân biệt bất kỳ dòng khách nào. Mọi du khách, trong nước hay quốc tế, khi đến với Tuyên Quang, Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn đều là những vị khách đáng quý và được đón tiếp bằng sự chân thành, bình đẳng.
Theo ông, mỗi du khách là một “sứ giả” lan tỏa hình ảnh, giá trị con người và văn hóa vùng đất địa đầu Tổ quốc. Đặc biệt, nhóm “Tây ba lô”, chủ yếu là giới trẻ – có vai trò lớn trong quảng bá nhờ tinh thần khám phá và khả năng lan tỏa mạnh mẽ trên mạng xã hội. Họ không chỉ thân thiện mà còn góp phần trực tiếp vào phát triển du lịch cộng đồng khi lựa chọn lưu trú tại bản làng, homestay.
Điều này giúp người dân tăng thu nhập, tiếp cận những giá trị mới, đồng thời khuyến khích bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc – yếu tố quan trọng nhưng không phải ai cũng nhận thấy.
×
Nguồn: Sưu tầm




Trả lời